Tân Sinh

Văn hóa Thần truyền là gì? Con người trở lại với văn hóa truyền thống chính là đang khôi phục lại đạo đức và thiện lương

Văn hóa Thần truyền, là văn hóa bắt nguồn từ Thiên Thượng, lấy tín ngưỡng làm căn bản, lấy Đạo Đức làm tôn chỉ. Đó là văn hóa quan niệm Thiên, Địa, Nhân hợp nhất thành một thể, là văn hóa hòa hợp toàn bộ Tự nhiên với Con người. Bởi vậy người xưa kính trọng Trời và tin vào Thần, “Xem Đạo của Trời để hiểu được Đạo làm người”. Văn hóa và tín ngưỡng của nhân loại song hành với nhau, trong nền văn minh huy hoàng sáng lạn luôn luôn lấp lánh ánh sáng rực rỡ của niềm tin.

Văn hóa truyền thống xưa con người luôn kính trọng Trời Đất, tin vào Phật – Đạo – Thần

Nhìn khắp toàn thế giới, hầu như tất cả các dân tộc từ xưa đều tin vào Thần. Trung Quốc là trung tâm của Văn hóa Thần truyền, cho nên vùng đất này được gọi là Thần Châu. Văn minh Hoa Hạ có thể phồn vinh lâu dài, có thể truyền thừa qua nhiều đời, chủ yếu là nhờ học được từ Văn hóa truyền thống vốn ẩn tàng trí tuệ cao quý. Quan niệm về vũ trụ và quan niệm về đạo đức “Thiên nhân hợp nhất”, tư tưởng của tam giáo (Nho gia, Phật gia và Đạo gia) giao hòa với nhau, tạo thành một chuẩn mực cho tư tưởng và hành vi của mọi người. Nhờ đó lòng kính trọng Trời, kính trọng Đức, tu thân và thương dân; các lý niệm đạo đức như thế bắt rễ sâu vào nhân tâm. Đạo, tức là quy luật của vũ trụ, là cảnh giới cao nhất theo học thuyết của các gia, các phái trong văn hóa truyền thống. Bất luận là nghiên cứu tư tưởng và học thuyết của gia nào, đầu tiên cần nắm chắc được chỉnh thể tinh thần của văn hóa truyền thống. Tất cả tín ngưỡng tôn giáo và chính tín có cốt lõi đều là dạy người hướng thiện, tôn chỉ là dựa theo quy luật của vũ trụ mà hành động, đạt tới cảnh giới Con người và Vũ trụ hài hòa, nếu không sẽ không phải là chính giáo. Cổ nhân cho rằng, vũ trụ là một thể sinh mệnh, “Đạo” là căn nguyên của vạn vật, là vĩnh viễn không thay đổi, con người muốn được trường cửu, thì đạo lý của con người phải phù hợp với Đạo Trời, lòng người hợp với Thiên Ý, tức là “Thiên nhân hợp nhất”. Ví như sự tỉnh giác của Lão Tử về Đạo: “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh, tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi. Khả dĩ vi thiên hạ mẫu. Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo” (Tạm dịch: “Có một vật sinh ra từ lúc hỗn nguyên, có từ trước khi Trời và Đất được sinh ra, yên lặng vô hình, độc lập mà không thay đổi, vận hành tuần hoàn mà không ngừng nghỉ. Nó có thể là mẹ của vạn vật trong vũ trụ. Ta không biết tên là gì, bèn viết là Đạo”). Sự thanh tĩnh, vô vi của Lão Tử chính là trạng thái tốt nhất của sinh mệnh để trở về với Đạo. Khổng Tử nói: “Duy thiên địa vạn vật chi mẫu, duy nhân vi vạn vật chi linh” (“Chỉ có Trời Đất là mẹ của vạn vật, chỉ có con người là anh linh của vạn vật”), cho rằng Trời là nguồn gốc của các quan niệm và nguyên tắc đạo đức, được tạo ra để ban cho con người các đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Phật gia giảng rằng Phật Pháp vô biên, từ bi phổ độ chúng sinh, giúp con người thông qua tu luyện Phật Pháp trở về lại được Thế giới Thiên quốc thần thánh trang nghiêm.

Con người không thể sống thiếu tín ngưỡng, nếu không sẽ không có được bến đỗ của tâm hồn, mất đi ý nghĩa và giá trị của đời người. “Tín ngưỡng” là mọi người đối với chân lý của vũ trụ thì hết sức tin phục và tôn trọng, lấy đó để hướng dẫn cho hành động của mình, nhờ vậy trong hoàn cảnh nào, vào bất kỳ lúc nào cũng có thể trước sau bảo trì niềm tin kiên định. Văn hóa Trung Quốc nhấn mạnh quá trình “Ngộ”, con người trong xã hội, nếu bị ích lợi vật chất mê hoặc, mất đi niềm tin, mất đi ngộ tính, sẽ lâm vào trạng thái hoang mang bối rối. Họ chỉ tin tưởng vào sự hưởng thụ vật chất, không tin ở tương lai, không có sự tỉnh giác của riêng bản thân mình, không có tiêu chuẩn giá trị và đối tượng để kính sợ, không có sự ràng buộc của tâm linh, cho nên liền muốn làm gì thì làm, cuối cùng họ đánh mất chuẩn mực đạo đức. Đó là lý do mà văn hóa truyền thống giảng rằng cần phải “ngộ Đạo làm người”.

Các điều khoản của pháp luật chỉ có thể ràng buộc được hành vi bên ngoài của con người, chứ không thể khiến nội tâm của con người kính sợ và tin phục, trong lúc người khác không nhìn thấy lại còn có thể phạm pháp. Còn Đạo Đức là tâm pháp để câu thúc con người, tất cả các chính giáo thông qua việc thức tỉnh lương tri của mọi người, giúp họ nhận thức chính xác được chân nghĩa của đời người, của sinh mệnh thậm chí ý nghĩa của toàn vũ trụ, đạt tới ý thức Đạo Đức tự giác một cách cao độ. Đạo Đức giúp mọi người từ trong công danh, lợi lộc, tham dục siêu thoát ra ngoài, cố gắng hoàn thiện đạo đức, khiến sinh mệnh bản thân có được tương lai tốt đẹp, có được hạnh phúc chân chính, được Trời Thần phù hộ. Chính giáo cho rằng Thượng Thiên là chúa tể của tất cả, con người cần tín ngưỡng thành kính, khiêm tốn trong tâm, bởi con người trước mặt Thượng Đế – đấng sáng tạo ra hết thảy – thì không thể nào ba hoa được, thường thường người có thành tựu càng lớn lại càng nhu hòa khiêm tốn, càng có thể chứng ngộ được cái lý của các cảnh giới khác nhau.

Văn hóa là tải thể của tinh thần dân tộc, tín ngưỡng và văn hóa là không có ranh giới. Nho, Phật, Đạo ba nhà, đều có một tư tưởng thống nhất, là cho rằng Thượng Thiên đã ban cho con người đức tính mà nhà Nho gọi là bản tính con người, lòng trắc ẩn hoặc là lương tri; Đạo gia gọi là Thần tính; Phật gia gọi là Phật tính. Rằng con người có thể thông qua giáo dục mà làm điều Thiện, thông qua tu thân mà đạt được cảnh giới “Thiên nhân hợp nhất”“nhân Thần nhất thể”. Từ góc độ của Nho gia mà xét, thì nhấn mạnh trọng Nhân trọng Lễ, khiêm hòa cung kính, cho rằng “Thiên tâm tồn nhân”, vạch rõ ra rằng “Lòng người bất nhân, Trời không phù hộ” là cái lý của Trời Đất. Chú trọng dùng Đạo Đức lễ nghi thực hiện duy hộ trật tự xã hội, hình thành ý thức bác ái “Người nhân từ thì thương người”, ý thức được trách nhiệm xã hội “Việc của Thiên hạ là việc của chính mình”, cùng với sứ mệnh lịch sử “Thiên Thượng đã trao cho mỗi người một nhiệm vụ to lớn”, biết được thông qua tu thân có thể thành Thánh Hiền; từ góc độ của Đạo gia mà xét, “Nhân sinh nhi tĩnh, thiên chi tính dã” (Tạm dịch: “Người tĩnh tại, chính là có Thiên tính”), con người cần tu chân dưỡng tính, phản bổn quy chân, tư tưởng xem nhẹ danh lợi, tâm trong sáng ít dục vọng, mới có thể từ Tĩnh sẽ sinh Tuệ, cuối cùng tu thành Chân Nhân. Từ góc độ Phật gia mà xét, mỗi người đều có Phật tính, chỉ bởi sống trên cõi đời ô trọc mà bị lạc mất bản tính, thông qua tu luyện, không ngừng thăng hoa có thể tu thành Phật, đạt được Thiện quả. Ba gia ấy tư tưởng đều khuyên răn người đời cần phải: Kính Trời tin Thần, tu Đức hướng Thiện, tin tưởng vào chân lý ‘thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo’.

Những người có đạo đức cao thượng trong lịch sử, đều là những người thực hành và truyền bá chân lý và đạo nghĩa, là những gương mẫu trong việc tu thân. Như “Ngũ Đế” thời thượng cổ thuận Ý Trời mà trị nước, tu thân chứng Đạo, khiến mọi người lúc ấy đều tự giác tín ngưỡng tôn sùng lẽ phải, thiên hạ thái bình hạnh phúc; thánh nhân của tam giáo dạy dỗ chúng sinh, ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sau; rất nhiều tiên tri và cao nhân thông qua quan sát thiên tượng, có thể biết trước những chuyện thế gian đại sự sắp phát sinh. Như Gia Cát Lượng viết “Mã tiền khóa”, Thiệu Ung viết “Mai hoa thi”, Lưu Bá Ôn viết “Thiêu bính ca”, …; Đường Thái Tông nghiêm khắc tự răn mình, rất mực khiêm tốn, khái sáng thời Trinh Quán thái bình – một đời Thiên triều thịnh thế; lại như Đào Uyên Minh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Tô Thức … những văn học gia ấy cũng đồng thời là người tu luyện, họ đều hòa hợp lý tưởng của bản thân với Đạo của Trời Đất. Hiểu biết về chân nghĩa của đời người, sự tỉnh giác về vũ trụ, và những thành tựu văn học tuyệt diệu, tất cả đều bắt nguồn từ nhân phẩm cao thượng thanh khiết, tín ngưỡng cao quý của họ.

Người Trung Quốc xưa ngửa mặt nhìn Trời với lòng sùng kính vô hạn, tin rằng người là do Thần tạo ra, văn hóa Thần truyền cấp cho người Trung Quốc một sinh lực vĩ đại và thống nhất. Tín ngưỡng chính thống trở thành tinh thần nội tại của người Trung Hoa, tích lũy được truyền thống uyên bác thâm sâu. Các tín ngưỡng chính thống đều hướng dẫn cho mọi người lấy đạo đức làm chuẩn mực cân nhắc hết thảy sự vật, giúp họ có thái độ và nhận thức chính xác về “Thiện” và “Ác”, “Chính” với “Tà” khi phải đối diện với các vấn đề có tính nguyên tắc.

Thiện Minh biên tập
Nguồn: Minhhue.net